Năm 1823: Joannes
Evangelista Purkinji tìm thấy các mô hình và hình dạng của ngón tay.
Năm 1880: Henry Faulds và
W.J Herschel, trong một công trình công bố tên là “Nature”, đã đề xuất sử
dụng vân tay như là phương thức độc đáo để xác định bản chất của con
người.
Cuối thế kỉ 19 năm 1880:
Tiến sĩ Henry Faulds đưa ra lý luận số lượng vân tay TRC (Total Ridge
Count) có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của chúng vào
gen di truyền của con người được thừa kế trong đó có liên quan đến tiềm năng
và trí tuệ của con người.
Năm
1892: ông Francis Galton đã chỉ ra rằng: vân tay của những cặp song sinh,
anh em và di truyền cùng dòng máu thì có sự tương đồng. Chính điều
này đã mở ra ngành nhân học.
Năm 1902: Harris Hawthorne
Wilder đã thiết lập hệ thống cơ bản của môn hình thái học, di truyền
học, và nghiên cứu trên chủng loại lòng bàn tay và vân tay.
Năm 1926: Harold Cummins đề
xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học dấu vân tay) như là một thuật ngữ
cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học
của Mỹ. Từ đó, Dermatoglyphics chính thức trở thành một ngành nghiên
cứu riêng biệt. Tiến sĩ Harold Cummins đưa ra lí luận chỉ số cường độ vân tay
PI, giá trị RC, số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân
tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con
người.
Ông nghiên cứu ra rằng dấu
vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ.
Dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào
giai đọan trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng chỉ
trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi cũng là lúc các vùng
chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não.
Năm
1930: Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP:
Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên
cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.
Năm
1958: Noel Jaquin đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân ta y sẽ tương
ứng với một chủng loại tính cách.
Năm 1981: giáo sư Roger
W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y
sinh học vì những nghiên cứu về chức năng của não trái và não phải
cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây những nghiên cứu về não bộ không
ngừng phát triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử
dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
Năm
1985: Tiến sĩ Chen Yi Mou - Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa
trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp
dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên
quan đến dấu vân tay.
Năm
1994: giáo sư Lin Jui Pin đã mang khoa học Sinh trắc học dấu vân tay vào
Đài Loan. Sau đó, nó đã được ứng dụng vào việc học tập và nghiên
cứu và tạo ra tiếng vang rất lớn tại Đài Loan vào lúc bấy giờ. Công
trình nghiên cứu của ông được Mỹ chứng nhận và cấp bằng sáng chế.
Năm
2004: Cty Well Gene Sciences đã bắt đầu sử dụng kỹ thuật cao để lấy
Dấu vân tay. Với một cơ sở dữ liệu khổng lồ lên đến hàng triệu cùng
với kỹ thuật phân tích thống kê, công ty này đã đưa ứng dụng sinh trắc
vân tay lên một tầm cao mới.
Cùng thời điểm này, tại
châu Á, mức độ quan tâm đặc biệt về khả năng nghiên cứu và ứng dụng
của ngành sinh trắc vân tay đã lan nhanh mạnh mẽ. Trung tâm IBMBS (Trung
tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận
án về Sinh trắc vân tay.
Braintrust
www.tamtaitri.com







Đăng nhận xét