Trắc
nghiệm tính cách Myers-Briggs, hay Chỉ số phân loại
Myers-Briggs (Myers-Briggs Type Indication), thường được viết ngắn gọn
là MBTI, là một phương pháp sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm tâm lý để tìm
hiểu tâm lý, tính cách cũng như cách con người nhận thức thế giới xung quanh,
đưa ra quyết định cho một vấn đề...
Phương pháp trắc nghiệm tính cách này khởi nguồn từ các lý
thuyết phân loại trong cuốn Psychological Types của Carl Gustav
Jung xuất bản năm 1921 và được phát triển bởi Katharine
Cook Briggs cùng con gái của bà, Isabel Briggs Myers, từ khoảng Chiến
tranh thế giới thứ hai. Các câu hỏi tâm lý ban đầu đã phát triển thành Chỉ số
phân loại Myers-Briggs và được công bố vào năm 1962.
MBTI
trả lời cho câu hỏi tại sao mỗi người trên thế giới đều có cá tính khác nhau,
không ai giống ai và nhấn mạnh vào sự khác biệt tự nhiên của mỗi người. Ngày
nay, MBTI đang được sử dụng như một phương pháp phân loại tính cách, giúp
con người hiểu rõ bản thân và những người xung quanh hoặc tìm được công việc
phù hợp...
Nhưng trong ngành tâm lý học, nhất là tâm lý học tính cách thì hẳn biết
MBTI không có tính khoa học, độ tin cậy cao và không được dùng trong nghiên cứu
để đánh giá tính cách con người. Thay vào đó, các nhà khoa học tin dùng mô
hình 5 yếu tố hay thang tính cách Big Five personality traits…
Vậy
mô hình này là gì?
Các
nhà khoa học tin rằng ai cũng có năm yếu tố tính cách, đó chính
là : Hướng ngoại (Extraversion), Tận tâm (Conscientiousness), Dễ chịu
(Agreeableness), Sẵn sàng trải nghiệm (Openness to experience) và Neuroticism
(Tâm lý bất ổn). Tuy nhiên, khác với MBTI, mô hình này không dán nhãn loại tính
cách của bạn (ví dụ phân loại bạn là INTJ hay INTP…) mà là kiểm tra xem bạn có
bao nhiêu phần trăm, bao nhiêu điểm cho từng mặt tính cách trong năm tính cách
này. Nói một cách dễ hiểu, hãy tưởng tượng mặt hướng ngoại là một cây thước
đo. Một đầu là hướng ngoại, một đầu là hướng nội và bạn có thể nằm giữa, có thể
thiên về hướng nội, có thể thiên về hướng ngoại…trên cây thước ấy.
Năm
mặt tính cách trong mô hình:
Hướng
ngoại (Extraversion) – HÒA ĐỒNG+MẠNH MẼ
Đặc
điểm của tính cách hướng ngoại là bề rộng của các mối quan hệ và các hoạt động
(đối nghịch với chiều sâu). Người có điểm hướng ngoại cao thường cảm thấy các
bữa tiệc tùng và các loại hoạt động là nguồn năng lượng của mình. Họ thích tìm
kiếm và cần các nguồn kích thích từ môi trường xung quanh, cơ hội để gia nhập
với người khác. Họ cũng thường rất hăng hái, nhiệt tình, theo trường phái hành
động, làm trước nghĩ sau, thích nói chuyện và khẳng định mình. Họ muốn thay đổi
cả thế giới hơn là hiểu về nó, và họ thường học hành rất tốt ở trường trung học
nhưng có thể nhận ra đại học quá khó cho mình. Người hướng ngoại như một biến
số thích chuyển động, dễ hiểu và dễ tiếp cận. Thái độ của họ thường rất tự tin và
thoải mái. Thường thì những người này được miêu tả như tràn trề sức sống và rất
tích cực. Trong công việc, họ thường thích làm việc với người khác và thích các
công việc có bề rộng hơn chiều sâu.
Hướng nội - ĐƠN ĐỘC+KÍN ĐÁO
Hay người có điểm hướng ngoại thấp, thường ít hòa mình với xã hội.
Nếu như các mối quan hệ, tiệc tùng, hoạt động là nguồn năng lượng của người
hướng ngoại thì người hướng nội nạp năng lượng cho mình bằng cách ở một mình.
Họ thường rất yên lặng, không nổi bật và không hòa nhập nhiều. Sự thiếu hụt hòa
nhập xã hội không bởi ngại ngùng hay trầm uất, mà do họ thường độc lập khỏi thế giới ngoại giao của mình hơn người hướng ngoại.
Người hướng nội cần ít sự kích thích và cần nhiều thời gian ở một mình hơn
người hướng ngoại. Điều này không có nghĩa là họ không thân thiện hay phản xã
hội mà là họ thường kín đáo hơn trong các tình huống xã hội. Năng lượng của họ
tập trung vào thế giới bên trong họ với những suy nghĩ hơn là sự kích thích bên
ngoài. Thay vì thay đổi thế giới thì người hướng nội lại thích nghĩ và tìm hiểu
về nó hơn. Họ suy nghĩ rất sâu về nhiều thứ và thường học tốt ở bậc đại học hơn
là trung học. Họ cũng thích những công việc có chiều sâu hơn.
Tận
tâm (Conscientiousness) – HIỆU QUẢ+THIẾT LẬP & DỄ DÃI+BẤT CẨN
Xu
hướng làm việc theo hệ thống, đáng tin cậy, có kỷ luật, có
trách nhiệm với công việc và thường lên kế hoạch mọi thứ trước, không hành động
bộc phát bốc đồng. Người có điểm cao ở mặt này thường có mong muốn hoàn thành
công việc được giao một cách tốt nhất và thường đặt ra mục tiêu để đạt được
những thành tựu trong công việc. Do đó có đôi khi họ được miêu tả như những
người cứng đầu. Những đặc điểm tính cách của họ bao gồm ngăn nắp, có hệ thống,
cẩn thận, hoàn hảo, suy tính thiệt hơn. Ví dụ như những quyển sách được sắp
trên kệ sách nhà họ theo bảng chữ cái, hoặc theo chủ đề hơn là quăng lung tung
trong phòng. Quần áo được xếp ngăn nắp bỏ vào tủ hơn là vương vãi trên sàn nhà.
Trong công việc, họ là những nhân viên chăm chỉ , tuy nhiên ở mức độ cực điểm,
họ có thể là những người “cuồng công việc”, theo chủ nghĩa hoàn hảo và có những
hành vi cưỡng chế.
Còn ngược lại, những
người có điểm thấp ở mặt tính cách này thường rất dễ dãi, không có mục tiêu
nhất định, thường không đáng tin cậy. Một số nghiên cứu chỉ ra những người có
điểm thấp thường có xu hướng phạm pháp, cũng như thất nghiệp, vô gia cư và tù
tội. Họ cũng gặp khó khăn khi tiết kiệm tiền.
Dễ
chịu (Agreeableness) – THÂN THIỆN+CÓ LÒNG TRẮC ẨN & CỨNG NHẮC+TÁCH BIỆT
Xu
hướng dễ động lòng - hợp tác hơn là nghi ngờ - đối nghịch. Những đặc điểm
hành vi của mặt tính cách này được coi là tốt bụng, thông cảm, hợp tác, ấm áp
và quan tâm. Những người có điểm cao ở mặt này thường có xu hướng tin rằng đa
phần mọi người rất trung thực, tốt bụng và đáng tin cậy. Họ thường có lòng vị
tha và hay giúp đỡ người khác. Những thực nghiệm cho thấy đa số người ta giúp
đỡ những người nào giống mình, hoặc chỉ giúp đỡ khi thấy thấu cảm cho người
khác. Tuy nhiên những người có chỉ số dễ chịu cao thường giúp người khác ngay
khi những điều trên không có mặt. Nói cách khác, những người dễ chịu thường có
“đặc tính giúp đỡ” và không cần bất cứ động lực gì khi giúp đỡ. Những người này
được miêu tả như ngây thơ và dễ bảo.
Ngược
lại với tính thích giúp đỡ của người dễ chịu, những người có điểm thấp ở mặt
này thường gây tổn thương đến những người khác. Các nhà nghiên cứu chỉ ra mối
tương quan giữa độ dễ chịu thấp với những suy nghĩ nóng nảy và kích động ở
thanh thiếu niên. Những người có độ dễ chịu thấp cũng thường có định kiến chống
lại những nhóm bị bêu xấu như béo phì. Độ dễ chịu thấp cũng có tương quan tới
một số bệnh tâm lý như xu hướng ái kỷ (yêu bản thân) và phản xã hội. Những
người này thường có tính cạnh tranh, thách thức cao, có đôi khi được coi là
khiêu khích hoặc không đáng tin.
Sẵn
sàng trải nghiệm (Openness to experience) – SÁNG TẠO+HIẾU KÝ & KIÊN ĐỊNH+CHẮC CHẮN
Thích
phiêu lưu trải nghiệm, yêu nghệ thuật, hiếu kỳ, có những ý tưởng độc đáo,
có óc thẩm mỹ… là các đặc điểm của mặt tính cách này. Nó phản ứng mức độ hiếu
kỳ một cách thông minh, tính sáng tạo thích trải nghiệm mà một người có. Những
người có điểm cao ở mặt này thường rất khó dự đoán và không tập trung. Họ dễ
lĩnh hội những tin tức giải trí và thách thức những mặt văn hóa của cuộc sống
cũng như những suy nghĩ và cảm xúc cá nhân. Một số nghiên cứu tìm ra mối tương
quan tích cực giữa mặt tính cách này và các bài kiểm tra IQ. Họ có
trí thông minh kết tinh, tức là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và kinh
nghiệm cao. Các nghiên cứu khác cũng tìm ra những nền văn hóa đặt cao những giá
trị sẵn sàng trải nghiệm này thường có tỷ lệ sử dụng chất kích thích cao.
Người
có điểm thấp ở mặt này thường thực dụng, võ đoán và làm việc theo dữ liệu, đôi
lúc thường được mô tả như quyết đoán và cứng nhắc. Họ thường rất truyền thống
trong hành vi, và vẻ ngoài của mình, thích làm việc theo guồng quay nhất định,
không thích trải nghiệm những thứ mới mẻ và có ít sở thích hơn. Vì thế họ thường
gặp khó khăn khi thích ứng với sự thay đổi. Cảm xúc của họ rất phẳng lặng và
khả năng chịu đựng thấp đối với những thế giới quan khác biệt.
Tâm
lý bất ổn (Neuroticism) – NHẠY CẢM+HOẢNG SỢ & VỮNG CHẮC+TỰ TIN
Xu
hướng dễ phát sinh những cảm xúc tiêu cực ví dụ như giận dữ, lo âu, trầm cảm,
dễ tổn thương. Tâm lý bất ổn cũng chỉ mức độ vững chắc của cảm xúc và khả năng
kiềm chế sự bốc đồng. Những người có điểm cao ở mặt này thường trải nghiệm
những cảm xúc u uất, giận dữ, lo sợ, tội lỗi, và ganh ghét cao hơn người
thường. Họ phản ứng rất tệ với Stress và thường lý giải những tình huống bình
thường dưới dạng nguy hiểm, đáng lo ngại và những khó khăn nhỏ là cực kỳ tuyệt
vọng. Họ chú ý quá mức đến vẻ bề ngoài hoặc hành vi của bản thân và gặp khó
khăn trong việc kìm nén những sự thôi thúc.
Ngược
lại, những người có chỉ số thấp thường có cảm xúc vững chãi hơn, ít dao động và
ít phản ứng với Stress hơn. Họ thường có xu hướng bình tĩnh, không nóng nảy, và
ít khi cảm thấy căng thẳng. Mặc dù họ có ít cảm xúc tiêu cực nhưng điều này
không có nghĩa là họ trải nghiệm cảm xúc tích cực cao. Trải nghiệm tích cực cao
là một đặc điểm của mặt hướng ngoại. Những người hướng ngoại có tâm lý bất ổn
có thể trải nghiệm cảm xúc tích cực lẫn tiêu cực cao, dao động y như tàu lượn
siêu tốc. Còn những người có điểm tâm lý bất ổn thấp (đặc biệt với những người
hướng ngoại) thì có những báo cáo cho thấy họ hạnh phúc và hài lòng với cuộc
sống của mình hơn.
Tại
sao mô hình năm yếu tố lại đáng tin cậy hơn những bài kiểm tra tính cách khác?
Theo
tâm lý học tính cách thì có thể phân tích tính cách con người dưới 6 mô hình: Bẩm sinh, Sinh lý (Di truyền), Nội tâm lý (Intrapsychic), Nhận thức-Trải
nghiệm, Xã hội và Văn hóa, cuối cùng là Thích ứng. Có nghĩa là tính cách con
người có thể sinh ra đã thế, di truyền từ cha mẹ và thay đổi tùy theo môi
trường và trải nghiệm của họ. Với những bài trắc nghiệm tính cách khác, ví dụ
như MBTI, mặc dù nó được dùng rộng rãi nhưng nó hơi cứng nhắc trong việc đóng đinh, dán nhãn một loại tính cách con người mà bỏ qua yếu tố tính cách có thể thay
đổi theo thời gian và môi trường. Và vì thế MBTI không có độ tin cậy cao khi độ
dao động thay đổi của nó quá lớn, ví dụ một người lấy bài test và có kết quả là
INTJ, sau một vài tuần cô ấy làm lại bài test ấy và kết quả có thể thay đổi
sang loại tính cách khác. Hơn nữa bài test này dựa trên thuyết về những loại
tâm lý của Carl Jung- một thuyết không được chào đón bởi những nhà tâm lý học
theo trường phái nghiên cứu hay học thuật. Bởi lẽ, con người không phân
ra thành “loại”, như loại hướng nội và loại hướng ngoại. Thay vào đó, các tính
cách con người được phân bố đều theo hình chuông (bell shape curve) với
phần lớn số người nằm ở giữa hai cực hướng ngoại và hướng nội. Thêm vào đó, bài
test này cho rằng có sự khác biệt lớn giữa các loại tính cách và không có sự
khác biệt nào trong cùng một loại tính cách. Ví dụ như người hướng ngoại lúc
nào cũng giống nhau, và người hướng nội cũng thế. Điều này không chính xác.
Ngược
lại, mô hình 5 yếu tố được dùng trong nghiên cứu khá rộng rãi. Nó không phân
loại tính cách con người mà thay vào đó, chấm điểm năm mặt tính cách mà họ có,
theo thể tiếp diễn (Continuum). Điều này bao hàm luôn cả yếu tố thay đổi tính cách của con
người, vì thế nên nó đáng tin cậy hơn. Hơn nữa nhiều nghiên cứu đã
chứng minh mối tương quan giữa những mặt tính cách này với tâm lý, với nghề
nghiệp.
Sức
khỏe tâm lý và ứng dụng
Nhiều
nghiên cứu chứng minh rằng người có chỉ số cao ở mặt tâm lý bất ổn thường dễ
mắc các bệnh tâm lý liên quan đến cảm xúc như trầm cảm, lưỡng cực, lo âu, rối
loạn ăn uống… Trong 5 mặt tính cách thì tâm lý bất ổn và hướng ngoại có tính
di truyền khoảng 30% và 40%. Những nghiên cứu về những đứa trẻ được nhận nuôi
cho thấy sức ảnh hưởng từ môi trường lên hai tính cách này rất ít. Điều này cho
thấy di truyền có sức ảnh hưởng lên những mặt tính cách này nhiều hơn là trải
nghiệm. Với phụ nữ chỉ số tâm lý bất ổn cao hơn đàn ông. Nên tỷ lệ mắc các bệnh rối loạn cảm xúc ở phụ nữ cũng cao hơn đàn ông.
Các nhà tuyển dụng, các công ty đánh
giá cao chỉ số tận tâm của một người hơn những mặt tính cách khác. Đây cũng là
một tính cách quan trọng nhất dẫn đến thành công trong công việc. Người có chỉ
số cao ở mặt này luôn có mức lương cao hơn. Ngoài ra, còn có tính dễ chịu. Đây là hai mặt
tính cách được coi trọng nhất trong công việc.
Ngược
lại trong hôn nhân, mặt tính cách có ảnh hưởng nhất đến độ bền hôn nhân chính
là tâm lý bất ổn. Các báo cáo về những cuộc hôn nhân của những người có chỉ số
tâm lý bất ổn cao cho thấy họ ít hài lòng với hôn nhân của mình, ít hưởng thụ
tình dục, cũng như ít hứng thú với bạn đời hơn, dẫn đến tỷ lệ ly hôn cao ở những
người này.
Về
mặt ứng dụng, mô hình 5 yếu tố còn được sử dụng để tìm kiếm người bạn đời thích hợp.
Trái với suy nghĩ thường thấy là những người có tính cách trái ngược nhau
thường quen nhau lâu hơn do họ bù trừ cho nhau. Các nghiên cứu cho thấy
những người có tính cách giống nhau gắn bó hơn, ít ly dị hơn vì họ
giúp định hình, giữ vững tính cách của đối phương và của mình (vì tính cách có
thể thay đổi theo trải nghiệm và thời gian).
Tâm Tài Trí
www.tamtaitri.com



Đăng nhận xét