TIN MỚI

TIN MỚI

DERMATOGLYPHIC MULTIPLE INTELLIGENCE (DMI) TEST

Identify the hidden potential learning style of your child

CON MƠ ƯỚC GÌ

Con muốn trở thành Bác sĩ hay Ca sĩ

KHÔNG CHỈ CÓ IQ

Ngoài IQ-Chỉ số thông minh logic, còn có AQ-Chỉ số vượt khó hay ý chí, CQ-Chỉ số sáng tạo và EQ-Chỉ số cảm xúc

THÔNG MINH ĐA DIỆN? NÃO TRÁI - NÃO PHẢI?

Con có năng khiếu gì? Âm nhạc hay Hội họa? Não phải thuận tay trái có khả năng sáng tạo không?

QUY TRÌNH TEST MDI

Đơn giản, Nhanh chóng và Khoa học

TÔI ĐI TÌM TÔI

TƯ VẤN - FAQ

KINH NGHIỆM - SHARE

CÔNG CỤ TEST KHÁM PHÁ BẢN THÂN

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2016

TẠI SAO GIÁO DỤC MỸ THU HÚT


1. Mỹ có nền giáo dục đại học đa dạng, phong phú và mềm dẻo, có tính thích nghi cao gắn chặt với thực tiễn sản xuất xã hội;
2. GDĐH Mỹ chịu ảnh hưởng của thị trường lao động hơn là việc lập kế hoạch;
3. Chương trình đào tạo bao gồm phần giáo dục đại cương, các môn tự chọn, các môn bắt buộc và hệ thống tín chỉ xuyên suốt trong hệ thống đào tạo. Việc áp dụng hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên có thể chủ động linh hoạt trong các chương trình và cơ sở đào tạo;
4. Mỹ có 2 loại trường Univercity và College

NÉT NỔI BẬT

1. Đại học và sau đại học mang tính cạnh tranh cao
Ý tưởng của người Mỹ về giáo dục đại chúng cho tất cả mọi người nhưng đi cùng với nhận thức rằng nước Mỹ cũng cẩn các chuyên gia trình độ cao. Do đó, có một hệ thống chọn lọc cao và hết sức cạnh tranh. Mỗi trường đều có những quy định về tiêu chuẩn tiếp nhận sinh viên riêng của mình. Nên các trường đại học tốt nhất cũng là những trường khó có thể tiếp nhận vào học nhất.
2. Thực hiện tốt việc kiểm soát giáo dục
Hợp chủng quốc Hoa kỳ không có hệ thống giáo dục toàn quốc. Hiến pháp không quy định trách nhiệm giáo dục của Chính phủ Liên bang nên tất cả những vấn đề giáo dục đều thuộc về từng bang. Dù có một Bộ Giáo dục nhưng chỉ có chức năng thu thập thông tin cố vấn và giúp đỡ tài chính cho các chương trình giáo dục nhất định.
Hiến pháp từng bang lại cho phép các cộng đồng địa phương kiểm soát thực sự về mặt hành chính với các trường công. Ban giám hiệu gồm các công dân được bầu từ một cộng đồng giám sát các trường học ở mỗi khu vực. Chính họ không phải là bang đề ra các chính sách của trường học và quyết định thực sự sẽ dạy những nội dung gì.
Những người quản lý trường học phải thể hiện những mong muốn của địa phương và những quan tâm về giáo dục khi họ được cộng đồng bầu ra. Tất cả các trường phổ thông hay đại học đều có các nhóm tự quản lý, các hiệp hội hay ban bệ tín nhiệm và đều khá tự do trong việc quyết định những tiêu chuẩn, tiếp nhận học sinh và những yêu cầu tốt nghiệp riêng của mình. Kết quả là sự đa dạng vả rất linh hoạt trong hệ thống giáo dục.
Hàng năm, có hàng trăm các công trình nghiên cứu kiểm tra khắt khe các trường học trên toàn quốc được công bố. Những cuộc tranh luận của công chúng về chất lượng, nội dung về các mục tiêu giáo dục luôn diễn ra rộng lớn và công khai trên toàn nước Mỹ.
3. Mục tiêu giáo dục rất cụ thể
- Về cơ bản, người Mỹ luôn hướng tới giáo dục bình đẳng, bất kể tầng lớp xã hội, nguồn gốc dân tộc, chủng tộc hay sắc tộc. Những ảnh hưởng về văn hóa đối với giáo dục Mỹ cũng quan trọng không kém nhưng khó có thể xác định hơn. Trình độ giáo dục tổng thể cao luôn được xem như là một sự tất yếu.
- Giáo dục tại Mỹ có truyền thống nhằm phục vụ mục tiêu tập hợp mọi người lại với nhau, tức là mục tiêu "Mỹ hóa". Các trường ở Mỹ đã phục vụ mục tiêu tập hợp lại hàng trăm nhóm văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo nguồn gốc về xã hội và chính trị đại diện cho hàng triệu người nhập cư khác nhau.
- Giáo dục cũng góp phần tạo xã hội, làm giảm bớt các khác biệt về nguồn gốc xã hội cũng như về sắc tộc hay chủng tộc đã và đang được nhiều người chấp nhận. Phần lớn các trường đại học cả công lẫn tư đều rất tích cực ủng hộ mục tiêu"đa dạng dân chủ".
- Mục tiêu lớn là làm cho bản thân "trở lên tốt hơn", hay " vươn lên trên thế giới này". Nó như một phần căn bản của giấc mơ Mỹ. Hàng triệu người nhập cư tới Mỹ thường hy vọng có được một cuộc sống tốt đẹp hơn với một nền giáo dục tốt cho chính bản thân họ và quan trọng nhất là cho con cái họ. Bước khởi đầu, cho dù mục tiêu cuối cùng là tiền tài, danh vọng, quyền lực hay chỉ đơn giản là kiến thức thường bắt đầu từ ngưỡng cửa của trường đại học.
4. Chú trọng đánh giá chất lượng giảng dạy và đề cao trách nhiệm của giáo viên
Cuối học kỳ, trước kỳ thi hết môn, mỗi sinh viên được phát một mẫu "Đánh giá giảng dạy". Sinh viên được nhận xét về những điều bổ ích hay chưa bổ ích của môn học, ưu nhược điểm của môn học và của người giảng dạy. Giáo sư không được can thiệp vào đánh giá này.
Theo Bộ Giáo dục Mỹ, một trong những tiêu chuẩn mới được nhấn mạnh trong đào tạo giáo viên chính là khả năng người thầy có thể tạo nên những bước đột phá để kéo cộng đồng đến gần với lớp học hơn. Từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy nhờ sự hỗ trợ của cộng đồng.
5. Chú trọng công tác kiểm định giáo dục
Hệ thống giáo dục ở Mỹ được đánh giá là có chất lượng kiểm định rất cao. Ở Mỹ việc được phép hoạt động (State apporoved/ Lesenced) là do nhà trường đáp ứng những yêu cầu về thành lập theo quy định từng tiểu bang về cơ sở vật chất, tính an toàn, tiền ký quỹ, thuế... Còn việc kiểm định (Accreditation) lại liên quan đến chất lượng của chương trình đào tạo (academic quality). Nên được thành lập không có nghĩa là đạt kiểm định. Chính vì lẽ đó, ở Mỹ có sự phân biệt rất rõ ràng giữa các trường được kiểm định (Accredited univercities) và các lò sản xuất cấp bằng (Degree/ Diploma Dills).
Ở Mỹ có hai cơ quan công nhận (Accrediting Agencies) các tổ chức kiểm định là Bộ Giáo dục Liên bang (USDE) và CHEA. Trong đó, USDE là cơ quan nhà nước và CHEA là cơ quan độc lập được các trường và các tổ chức kiểm định thừa nhận. Như vậy, hai cơ quan này không trực tiếp kiểm định các trường mà các trường được kiểm định thông qua các tổ chức kiểm định.
Ngoài ra, trên các trang web đều có thông báo các dấu hiệu nhận biết về các lò sản xuất bằng cấp, thậm chí có cả danh sách trường bị đưa ra tòa do vi phạm luật.
Được kiểm định có nghĩa chất lượng đảm bảo, có thể tiếp cận với ngân sách Chính phủ, hỗ trợ tài chính và dự án nghiên cứu. Sinh viên các trường kiểm định có thể trao đổi lẫn nhau, tạo niềm tin nơi nhà tuyển dụng.


Braintrust
www.tamtaitri.com

CUỘC ĐỚI LÀ LỰA CHỌN! BẠN CHỌN GÌ NÀO


Trong cuộc đời, không ít lần bạn phải đứng trước những lựa chọn. Chỉ cần một quyết định sai lầm, có thể cả quãng đời còn lại của bạn sẽ phải thay đổi. Vì thế, hãy làm chủ cuộc sống của mình, đừng nóng vội để không phải hối tiếc về sau. 

1. Chọn người yêu: Với nhiều người, người yêu chính là động lực giúp họ vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Tuy nhiên, một số người cho rằng có bạn trai là để bằng với thiên hạ, hoặc chỉ để lấp đi khoảng “trống vắng” trong lòng. Thế là, họ chọn một người tạm gọi là “được được” và lao vào yêu. Thông thường, kết quả không như mong đợi. Bạn mất nhiều thời gian để thoát khỏi đau khổ, thậm chí không thể đứng dậy sau những va vấp. 

2. Cách chọn bạn đời: Sẽ không có gì nếu cả hai yêu nhau và đi đến hôn nhân. Nhưng vì lý do nào đó, bạn kết hôn với người mình không yêu. Nếu không có sự cảm thông, chia sẻ, dễ dẫn đến bất đồng về quan điểm, cách sống. Trường hợp lấy phải chồng vũ phu, cuộc sống bạn sẽ như địa ngục trần gian. Bạn khó dứt ra vì trách nhiệm, vì dư luận xã hội… Kéo dài tình trạng này, bạn phải ôm khổ một đời. 

3. Chọn nghề: Bạn theo học một trường vì sở thích, hợp khả năng hay do mong muốn của bố mẹ? Việc này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của bạn đấy! Nếu quá trình học không mang lại hứng thú, bạn chán nản và kết quả học tập sẽ giảm sút. Khi ra trường, bạn không đủ năng lực để tìm một công việc tốt. Bạn dễ gặp thất bại. Lúc này, con đường tương lai của bạn sẽ rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. 

4. Bạn thân: Là người hiểu và chia sẻ với bạn những vui buồn. Nhưng nếu đặt niềm tin nhầm chỗ, họ có thể quay lưng khi bạn gặp thất bại, đau khổ. Thậm chí, họ bán đứng bạn vì lợi ích cá nhân. Khi ấy, bạn sẽ thấy hụt hẫng, sống vô cảm và khép kín hơn. Bạn nghi ngờ sự chân thành và lòng tốt của mọi người. Rất khó để bạn cân bằng lại cuộc sống. 

5. Chọn cách quan tâm: Bạn muốn con học một ngành, nghề mà bạn thích và con bạn không thể đáp ứng được sự kỳ vọng đó. Bạn bực bội, cáu gắt, xem con như đồ bỏ đi. Con bạn sẽ buồn nản, không làm được gì vì nghĩ mình vô dụng. Vì vậy, cách bạn thể hiện sự quan tâm đối với người khác rất ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và cả bạn. 

6. Chọn sự nghiệp trên gia đình: Bạn nghĩ có tiền là có tất cả. Bạn lao vào làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình. Khi bố mẹ mất, con cái hư hỏng, bạn mới nhận ra mình đã đánh mất nhiều thứ quan trọng. Đôi khi, sự lựa chọn sai lầm sẽ làm bạn day dứt suốt quãng đời còn lại.

7. Chọn thời điểm con ra đời: Khi chưa muốn có con mà bị vỡ kế hoạch, bạn đành phải sinh em bé. Bao nhiêu dự tính quan trọng cho tương lai bị gác lại. Có người còn bỏ cả sự nghiệp, về an phận làm mẹ, làm vợ. Khi chưa chuẩn bị kinh tế đầy đủ để đón con chào đời, gia đình bạn sẽ gặp không ít khó khăn, dễ dẫn đến mâu thuẫn. Cuộc sống vì thế có thể sẽ thay đổi nếu bạn có một quyết định không sáng suốt. 

8. Cách giải trí thư giãn: Khi buồn, người ta dễ có những hành động không màng đến hậu quả. Họ có thể tìm đến thuốc lá, bia rượu hoặc ma túy, thuốc lắc. Không những khi buồn mà cả lúc vui, có người cũng lao vào các kiểu giải trí này. Họ cứ trượt dài trong sa đọa, đến lúc muốn quay lại với cuộc sống bình thường cũng không thể.

BẠN ĐÃ CHỌN GÌ RỒI?

Braintrust
www.tamtaitri.com

NƯỚC MỸ CÓ THỰC SỰ LÀ THIÊN ĐƯỜNG?

Thêm chú thích

Một số người nói rằng cuộc sống ở Mỹ là thiên đường vì họ đều không ở Mỹ. Thử xem cuộc sống ở Mỹ hay ở Việt Nam đâu mới là thiên đường.
Ở Việt Nam, học phí 1 năm từ 1.600.000 - 1.800.000, mức đó phù hợp với mức thu nhập chung của các bậc phụ huynh. Học phí lại được đóng theo học kỳ nên không quá khó. Gia đình nghèo cũng có thể vay Nhà nước hoặc được trợ cấp theo diện gia đình khó khăn. Còn nếu bạn cố gắng học tập là sinh viên giỏi, có thể được học bổng 180.000 - 240.000.
Về chi phí sinh hoạt, nếu ở với bố mẹ thì chỉ còn tiền tiêu vặt, xăng xe và những event phí. Nếu học xa nhà thì phải thuê nhà, tiền ăn, điện nước... thì thường được bố mẹ trợ cấp khoảng 2.000.000 - 3.000.000/ tháng. Rất ít sinh viên tự chi trả cho mình. 
Còn ở Mỹ, đi học College hay University, trường công học phí 5.000 -10.000/năm (trường tư 30.000 - 45.000/năm), 4 năm thành 20.000 - 40.000. Mà đa số sinh viên thuê nhà ở riêng (800 - 1.000/tháng) tự lo ăn uống (1.000/tháng) chi phí một năm 24.000. Như vậy ít nhất trong 4 năm phải mất khoảng 116.000 -136.000. Đó là chưa kể xăng xe, bảo hiểm xe, bảo hiểm y tế, nhân mạng. Với số tiền khổng lồ như vậy, thường thì sinh viên phải vay Chính phủ để trả học phí và tất nhiên khi ra trường phải nai lưng ra mà làm việc trả nợ.
Ở Việt Nam, sinh viên Đại học ra trường lương trung bình 3.000.000/tháng nếu làm cho liên doanh hoặc doanh nghiệp nước ngoài thì lương gấp 3 đến 4 lần. Với mức như vậy mà ở với Bố Mẹ cũng Ok. Còn không thì vẫn có thể sống sót. Nhưng ít ra bạn không phải lo lắng nhiều về nợ nần. Không bị thuế má, bảo hiểm ràng buộc nhiều. Bạn vẫn có cuộc sống an nhàn, tinh thần thoải mái. Nếu là công chức viên chức nhà nước sau 8 tiếng bạn vẫn còn rất nhiều thời gian cho gia đình và bản thân.
Mặc dù với mức lương Nhà nước đa số vẫn có thể sáng uống cà fe, chiều la cà nhậu nhẹt, karaoke nhà hàng, xem phim và hàng năm vẫn nghỉ mát theo chế độ. 
Còn ở Mỹ, sinh viên ra trường phải trả mỗi tháng 600 - 800 cho khoản nợ 4 năm đại học. Nếu thuê nhà cũng phải trả tương đương như lúc còn đi học. Nếu mua nhà vay tiền Chính phủ mỗi tháng lại trả thêm 1000 tiền vay ngân hàng, chưa kể tiền thuế và bảo hiểm nhà cửa. Cục nợ đó kéo dài 20 - 40 năm, kể cả với mức lương kỹ sư hay bác sĩ, thường thì cục nợ đó sẽ theo bạn tới già.
Mà ở Mỹ đã đi làm thì phải có xe, nếu xe mới thì lại phải vay, mỗi tháng thêm 400 - 600 nữa trong 2 - 3 năm. Chưa hết còn bảo hiểm xe, xăng nhớt, tiền ăn uống sinh hoạt hàng ngày, nếu tiết kiệm cúng 300 - 400/ tháng. Ngoài ra, còn chi phí điện, nước, gas, điện thoại, bảo hiểm y tế, nhân mạng.
Ở Mỹ ít ai có thể "ăn chơi" như ở Việt Nam. Đi ăn nhà hàng thật hiếm hoi, chỉ có mấy tiệm ăn nhanh rẻ tiền mới đắt khách thôi. Restaurant tất nhiên vẫn đông những người giàu. Với gánh nặng như vậy thì còn đâu đời sống tinh thần nữa. Chưa kể luôn luôn bị Stress vì công việc, lo thất nghiệp có thể dẫn đến mất nhà, mất xe... mất tất cả. Hàng ngày, trở về nhà nhiều người sau khi nấu ăn, chăm sóc con cái chỉ muốn đi ngủ sớm. Ít ai còn quan tâm Ti vi đang chiếu gì. Cứ như vậy ngày ngày quay cuồng làm việc kiếm tiền, tiêu trả rồi lại trả tiêu. Có lẽ vì vậy người Mỹ có tiếng là thực dụng.
Khi đau ốm ở Mỹ có Medicare hoặc Insurance chi trả. Nhưng trợ cấp của Chính phủ hay Insurance cũng chỉ lo đến một mức nào đó mà thôi, quá mức quy định thì thân nhân phải phụ thêm 20 - 30% viện phí. Còn sinh nở, ở Việt Nam sinh con xong có thể ở lại 5 -7 ngày. Nhưng ở Mỹ, nếu không sinh mổ thì phải về ngay vì viện phí rất đắt. Với việc nuôi con, nhiều gia đình Việt Nam có thể thuê người giúp việc để giúp cho Mẹ và bé hoặc trông nom em bé cho mẹ đi làm. Còn ở Mỹ hầu như mọi người đều phải tự lo liệu cho mình. Hết phép nghỉ sinh phải gửi con ở Daycare để đi làm với chi phí 1.500/ tháng.
Vậy cuộc sống sung sướng ở Mỹ chỉ đúng khi bạn bỏ ra rất nhiều năm học hành và làm việc chăm chỉ (cật lực và hiệu quả). Tuy nhiên gánh nặng nợ nần vẫn theo bạn đến tuổi già. Khi đó ở nhà ăn trợ cấp và có thể bắt đầu được relax về thể chất và tinh thần.

ĐÂU MỚI THỰC SỰ LÀ THIÊN ĐƯỜNG?


Braintrust
www.tamtaitri.com

ĐẾN MỸ BẠN CÓ THỂ LÀM GÌ?


Trong chuyến công du của Tổng thống Mỹ Barack Obama tới Malaysia, luôn có một người phụ nữ âm thầm bên cạnh tham vấn cho ông trong nhiều vấn đề. Người phụ nữ này có tên Elizabeth Phu, 39 tuổi và là người gốc Việt. Hiện tại bà đang đảm đương chức vụ Giám đốc phụ trách vụ Đông Nam Á và châu Đại Dương.

Là một người từng chứng kiến và trải nghiệm những vấn đề này trong khu vực, bà Phu chia sẻ: “Thật khó để nghĩ tới việc nước Mỹ sẽ không còn tiếp nhận người nhập cư. Mỹ là một quốc gia luôn mở rộng vòng tay chào đón mọi người bất cứ khi nào họ cần, những người có mong muốn lao động và cải thiện cuộc sống gia đình".

Nghề nghiệp ở Mỹ là vô số. Trình độ chuyên môn cỡ nào cũng có công việc phù hợp hết miễn là bạn không lười, không ngại việc là được.
Nếu không biết tiếng Mỹ, không có bằng cấp thì có thể làm:

1. Việc không cần giấy phép: 
  • Làm cho nhà hàng, quán ăn Việt Nam như phục vụ bàn hoặc phụ bếp;
  • Làm trong chợ Việt Nam như đứng quầy tính tiền hoặc phụ sắp xếp hàng lên kệ;
  • Làm trong tiệm giặt ủi: bấm thẻ cho quần áo bẩn, đứng máy giặt, máy ủi, hoặc móc đồ lên giá. Muốn đứng trên quầy thì phải biết tiếng Mỹ khá tốt. Còn làm trong xưởng giặt, ủi hoặc móc đồ lên giá thì phải có sức khỏe để đứng suốt ngày trong cái nóng hầm hập của xưởng.
  • Sửa quần áo, sửa thuê cho tiệm giặt hoặc mở tiệm riêng. Người Mỹ toàn mua đồ may sẵn về bận nên không vừa. Hầu hết đều phải lên gấu, bóp ống. Thậm chí đứt khuy cũng xách ra tiệm. Nghề này cũng hốt bạc lắm!
  • Cắt cỏ, nhận cắt thuê cho những gia đình neo người;
  • Sửa chữa, xây dựng nhỏ như lát gạch, đổ sân xi măng, sửa ống nước...
  • Làm thợ lắp ráp cho các xưởng.
2. Việc phải có giấy phép hành nghề (license)

  • Giữ trẻ, phải học rồi thi mới lấy được giấy phép hành nghề, có thể giữ tại nhà mình hoặc tới ở luôn tại nhà người ta.
  • Làm nail, làm tóc, học đủ số giờ quy định của từng tiểu bang rồi thi lấy license, ra làm cho thuê. Từ từ tích lũy, đủ vốn thì tự mở tiệm riêng. 
  • Massage, cũng phải học lấy license. rồi có thể làm việc tại Spa.
Thuận lợi: Không cần biết rành tiếng Mỹ vẫn có việc làm, không cần kinh nghiệm, thời gian đào tạo ngắn, nên có thể mau đi làm. Thời gian làm việc linh hoạt, không nhất thiết theo giờ hành chính. Thậm chí một số công việc có thể chủ động chọn giờ tùy thích. Ngoài lương, có một số công việc còn có thêm tiền tip (bo) nên thu nhập thực tế cao hơn.
Khó khăn: Những công việc này thường chỉ có ở những thành phố lớn; Công việc nhà hàng, chợ, tiệm giặt ủi, cắt cỏ... đều là những việc rất nặng nhọc, đòi hỏi sức khỏe tốt. Tuy thời gian linh hoạt nhưng thời gian làm việc kéo dài, thường phải làm trễ cả ngày cuối tuần. Ngoài lương thì không có bảo hiểm, không lương hưu, không ngày phép; Công việc không ổn định dễ thay đổi. Đối với nghề giữ trẻ sơ suất nhỏ cũng có thể bị treo license, phạt tiền và có thể chịu án tù; Nghề nail và làm tóc nguy hại cho sức khỏe vì tiếp xúc thường xuyên với hóa chất; tư thế làm việc cũng gây tổn hại sức khỏe.

Công việc cần bằng cấp và ngôn ngữ 
  • Phụ tá cho bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ; làm trong bệnh viện hoặc phòng mạch, nhà thuốc;
  • Medical biller, medical coder giúp cho bệnh việc hoặc các phòng mạch code của bệnh nhân rồi làm thủ tục yêu cầu bảo hiểm thanh toán cho dịch vụ mà bệnh viện hoặc phòng mạch đã thực hiện cho bệnh nhân có bảo hiểm;
  • Bán bảo hiểm;
  • Môi giới địa ốc;
  • Bán vé máy bay;
Thuận lợi: thu nhập khá, có bảo hiểm, có lương hưu.
Khó khăn: Bắt buộc có ngôn ngữ đủ nghe hiểu và nói chuyện trực tiếp với người Mỹ; làm ca kíp, cuối tuần thì tuần nghỉ tuần làm, ngày lễ cũng bị hạn chế đó là khi làm trong bệnh viện; còn phòng mạch thì rảnh rỗi hơn nhưng quyền lợi không bằng; còn bảo hiểm, địa ốc, vé máy bay thì bấp bênh tùy thuộc tình hình kinh tế

Công việc cần bằng đại học, cao đẳng
Có rất nhiều ngành nghề cần trình độ đại học và cao đằng. Tôi không nêu ở đây. Phần ngày tôi chỉ đề cập đến thuận lợi và khó khăn

Thuận lợi: thu nhập trên trung bình, cao và ổn định; Quyền lợi đầy đủ (Bảo hiểm, hưu trí, ngày nghỉ cuối tuần, lễ Liên bang); Thời gian làm việc cố định 8 - 17h, nghỉ cuối tuần, nghỉ ngày lễ của Liên bang. Có một số công việc còn được tại nhà. Nếu có quốc tịch xin được việc làm cho Chính phủ liên bang thì gần như ổn định cả đời. Ngoài ra, có thể được hỗ trợ học phí nếu xin học nâng cao.
Khó khăn: vốn tiếng Mỹ phải tốt, có thể nghe, đọc hiểu về chuyên ngành (không phải chỉ giao tiếp phổ thông); thời gian công sức mất nhiều hơn. Cũng có thể thất nghiệp tùy tình hình kinh tế.

Braintrust
tamtaitri.com


KHÓA HỌC CHILDCARE - KỸ NĂNG CHĂM SÓC TRẺ


Tại sao bạn nên tham dự khóa học Childcare?

Bạn đang không biết phải xoay sở với các tình huống với trẻ như:
1. Làm thế nào để trẻ thích chơi với mình?
2. Chơi với trẻ ra sao?
3. Xử lý các tình huống như thế nào khi trẻ không nghe lời hay trẻ khóc?
4. Các bệnh nào thường gặp ở trẻ?

Điểm nhấn của khóa học Lý thuyết Childcare
§  Giáo trình đào tạo xây dựng kết hợp các tài liệu khoa học và kinh nghiệm trên TG.
§  Học kiến thức chăm sóc trẻ tương ứng với từng quốc gia, đảm bảo kiến thức thực tế, hỗ trợ đắc lực cho bạn trong việc chăm sóc trẻ.
§  Giảng viên có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy, tiếp xúc với trẻ nhỏ, am hiểu sâu sắc về trẻ em. Do đó các thông tin trong khóa học đều giá trị và rất khó tìm thấy ở bên ngoài.

Nội dung của khóa học:


Buổi 1:
§  Sự phát triển tâm lý của trẻ;
§  Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa đến hoạt động chăm sóc, giáo dục; 
§  Nhấn mạnh các thái độ cần thiết khi chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Buổi 2:
§  Thực hành được các kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ cơ bản;
§  An toàn cho trẻ;
§  Dinh dưỡng cho trẻ;
§  Kỹ năng vận động, vui chơi với trẻ;
§  Vận dụng được kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ vào giải quyết một số tình huống thường gặp.

Những ai nên tham gia khóa học này

Khóa học Childcare đặc biệt phù hợp với các bạn trẻ mới lập gia đình hoặc đã có con nhỏ. Đừng nên xem nhẹ kỹ năng chăm sóc trẻ em nếu bạn thực sự muốn hiểu và chăm sóc tốt cho con mình, hãy tham gia khóa học và bạn sẽ thấy đây là lựa chọn chính xác nhất của mình.
Khóa học Childcare nằm trong hệ thống các khóa học về trang bị kỹ năng, kiến thức hữu ích cho các bậc phụ huynh của Tâm Tài Trí. Các bạn hãy tìm hiểu thêm về những khóa học khác để trang bị cho mình tất cả những kiến thức cần thiết nhé.
Để lại thông tin phía dưới, các chuyên gia tư vấn của chúng tôi sẽ chủ động liên hệ và tư vấn miễn phí cho bạn.
Chúc các bạn có một kỷ niệm đáng nhớ cùng Tâm Tài Trí

Thao My
www.tamtaitris


Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

BẠN BIẾT GÌ VỀ AU PAIR? BABYSITTER



Du học được xem như một lựa chọn khá phổ biến hiện nay, tuy nhiên, điều này vẫn còn khá… xa xôi với các bạn không có đủ điều kiện tài chính. Vậy thì tại sao bạn không thử tìm hiểu về Au pair – chương trình trao đổi văn hóa tiết kiệm và bổ ích đang được nhiều bạn trẻ khắp thế giới lựa chọn!

Au pair là một khái niệm được ra đời tại châu Âu để chỉ các bạn trẻ người nước ngoài trong độ tuổi 17-30 (quy định cụ thể ở mỗi nước có thể khác nhau) sống cùng với một gia đình bản xứ trong thời gian một năm. Các nước hiện có chương trình Au pair bao gồm: Pháp, Mỹ, Đức, Anh, Áo, Phần Lan, Ý, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ… Các bạn sẽ có trách nhiệm phụ giúp gia đình chủ nhà, đa phần là giúp trông trẻ và các việc lặt vặt trong nhà chuẩn bị bữa ăn. Đổi lại, các bạn cũng sẽ nhận được một khoản tiền tiêu vặt hằng tuần và được tạo điều kiện để tham gia vào các khóa học về văn hóa, ngôn ngữ bản địa.

Yếu tố đầu tiên giúp Au pair trở nên ngày càng phổ biến trong giới trẻ là chuyện kinh phí! Khi tham gia chương trình, các bạn không phải lo lắng về chi phí ăn ở, và hằng tháng, các sinh viên Au pair còn nhận được một khoản tiền tiêu vặt kha khá, đủ để mua sắm và trang trải cho một số nhu cầu giải trí. Hơn nữa, khi tham gia vào những chương trình Homestay như Au pair, các bạn sẽ dễ dàng hòa nhập hơn với môi trường sống mới, có “gia đình” ở bên lúc nào mà chẳng tốt hơn nhỉ! Cũng chính vì yêu cầu phải giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày nên vấn đề đọc thông, viết thạo ngoại ngữ là điều rất khả thi sau khoảng thời gian một năm. 

Công việc trông trẻ – Dễ mà khó!

Cũng là đi du học, nhưng các bạn Au pair có những trách nhiệm gắn liền với chương trình trao đổi văn hóa mà mình tham gia. Các Au pair giống như là người anh/chị cả trong gia đình, giúp bố mẹ nuôi chăm sóc các em. Công việc chủ yếu của các Au pair là trông nom và chơi cùng các bé, giúp các em tắm, chuẩn bị quần áo, chuẩn bị bữa ăn cho các em. Một số gia đình còn yêu cầu các Au pair kèm các em học, đưa đón các em đến trường. Nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng thực ra đây là việc đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao nên nếu không thích “con nít” thì các du học sinh Au pair khó mà hoàn thành tốt công việc này.
Thử nghĩ nhé, chủ nhà sẽ gửi gắm con cái của họ cho bạn trông nom và chăm sóc, thế nên bạn không thể lơ là hay thiếu trách nhiệm được. Thỉnh thoảng, một vài du học sinh còn gặp phải “rắc rối” từ các bé. 

Ngoài thời gian trông trẻ, thỉnh thoảng bạn cần giúp đỡ gia đình những việc nhà đơn giản khác như: giặt quần áo, rửa bát, dọn dẹp nhà cửa… Tất nhiên, là trước đó chủ nhà và bạn sẽ cùng lên thời gian biểu và có bảng mô tả công việc chi tiết để đảm bảo bạn có thể phụ giúp việc trong gia đình mà không ảnh hưởng gì đến việc học ngoại ngữ của bạn.

Au pair nghĩa là bạn sẽ có thêm một gia đình!

Ngoài việc được miễn phí ăn ở, sinh hoạt, các Au pair còn được gia đình bố mẹ nuôi tạo điều kiện và môi trường sống tốt trong thời gian họ là thành viên gia đình. Ngoài ra, gia đình bố mẹ nuôi có trách nhiệm tìm cho các Au pair những lớp học ngoại ngữ phù hợp và đảm bảo tạo điều kiện cho các du học sinh đi học. Những khoản phí như: bảo hiểm y tế, chi phí khám bệnh, vé xe bus hoặc các phương tiện công cộng để di chuyển… cũng do gia đình bố mẹ nuôi lo. 

THAO MY
www.tamtaitri.com


NỘI DUNG BÁO CÁO & TƯ VẤN SINH TRẮC DẤU VÂN TAY

  • Giúp khám phá năng lực cốt lõi, năng khiếu bẩm sinh cũng như điểm mạnh, điểm yếu;
  • Xác định trí thông minh vượt trội theo mô hình 8 trí thông minh;
  • Nhận biết cách tiếp thu tốt nhất, từ đó đề ra phương pháp học tập phù hợp;
  • Xây dựng sự tự tin trong học tập và giao tiếp;
  • Tư vấn hỗ trợ có cái nhìn đầy đủ và sâu sắc hơn, từ đó điều chỉnh cách tiếp cận sao cho tối đa hóa khả năng, phát triển bản thân tốt hơn.

 Giá trị của bài báo cáo “Sinh trắc dấu vân tay”
1. Đối với học sinh (từ Mầm non đến Lớp 12)
-       Giúp khám phá năng lực cốt lõi, bẩm sinh cũng như điểm mạnh, điểm yếu của trẻ
-       Xác định trí thông minh vượt trội của trẻ theo mô hình 8 trí thông minh của Giáo sư Howard Garner
-       Nhận biết cách tiếp thu tốt nhất của trẻ từ đó đề ra phương pháp dạy phù hợp
-       Xây dựng cho trẻ sự tự tin trong học tập và giao tiếp
-       Hỗ trợ cho cha mẹ có cái nhìn đầy đủ và sâu sắc về con mình, từ đó sẽ điều chỉnh cách tiếp cận sao cho tối đa hóa khả năng trẻ và giao tiếp với trẻ tốt hơn.
Từ những thông tin này, Nhà trường có thể thiết kế các khóa học dành cho trẻ để đạt được:
-       Khả năng tập trung và nhớ ở mức cao (Khả  năng nhớ có mục đích).
-       Tư duy tổng hợp (làm chủ sự hiểu biết, ôn tập và gợi nhớ một cách sáng tạo).
-       Khả năng tư duy chính xác trong giải quyết vần đề.
-       Tự tin cao (nhiều phương thức hữu hiệu giúp kích hoạt não bộ từ đó biết cách thể hiện bản thân tốt hơn).
-       Đời sống học tập trầm tĩnh và thoải mái (quản lý lo âu và thái độ tích cực).
2. Đối với người trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên)
-       Khám phá chính mình bằng cách khám phá các năng lực cốt lõi của bạn.
-       Giúp bạn định hướng nghề nghiệp phù hợp với tài năng bẩm sinh.
-       Khơi dậy niềm đam mê của bạn trong công việc để đạt được mục tiêu và thành công.
-       Tư vấn phát triển phong cách cá nhân trở thành một người chuyên nghiệp trong công việc và cuộc sống.
-       Hiểu rõ và làm giàu giá trị cuộc sống bản thân.
3. Đối với các Cặp đôi:
-       Hòa hợp để hạnh phúc hơn
-       Nhận biết được năng lực tiềm ẩn để hỗ trợ, giúp đỡ nhau thành công.
4. Đối với Gia đình:
-       Cha mẹ thấu hiểu các năng khiếu bẩm sinh, điểm mạnh và điểm yếu của con, từ đó định hướng trẻ phát huy tối đa tiềm năng.
-       Tư vấn cải thiện các bất đồng quan điểm giữa cha mẹ và con trẻ.
-       Thấu hiểu lẫn nhau - Nâng cao giá trị gia đình
5. Đối với Doanh nghiệp:
-       Giúp doanh nghiệp sàng lọc trong tuyển dụng, đánh giá năng lực thực hiện công việc và phong cách của ứng viên
-       Khám phá tiềm năng của nhân viên nhằm bố trí đúng người vào đúng vị trí
-       Phát huy tiềm năng nhân viên tạo đột phá cho doanh nghiệp
-       Tư vấn củng cố nguồn nhân lực. Tìm ra các lãnh đạo tài ba
-       Tư vấn đào tạo và phát triển nhân sự.

ỨNG DỤNG CỦA NGÀNH SINH TRẮC DẤU VÂN TAY


Nghiên cứu về ngành Sinh trắc dấu vân tay đã có tuổi đời hơn 200 năm. Kết quả nghiên cứu này đã được áp dụng trong ngành nhân học, di truyền học, y học và thông kê giúp giải mã khả năng tiềm ẩn của con người.
Những quốc gia như Nga, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Singapore đã áp dụng kỹ thuật này trong các lĩnh vực như: thể thao, đào tạo, quản trị nguồn nhân lực, tuyển dụng, giải trí và ngay cả định hướng thiên tài.
Không may, hầu hết chúng ta có rất ít thông tin cũng như cảm nhận không rõ ràng về tài năng và điểm mạnh của chính bản thân mình. Thay vào đó, chúng ta được định hướng bởi cha mẹ, thầy cô, các nhà quản lý, các phương tiện truyền thông, đồng nghiệp, bạn bè. Từ đó chúng ta lại vô tình khai thác điểm yếu của mình và sống cuộc sống bình thường mà lãng quên đi điểm mạnh và tài năng của mình. Việc này cứ tiếp tục lập lại từ thế này này qua thế hệ khác khiến chúng ta tự hạn chế năng lực của bản thân, thay vì trau dồi và vươn xa những năng lực của bản thân.
Độ chính xác của bài Báo cáo lên đến 95% và đã được công nhận bằng Sáng chế tại Hoa Kỳ.




Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

HAPPY LEFT HANDERS DAY

Có một nhóm người chỉ chiếm khoảng 15% dân số Thế giới mà thôi, nhưng đa số họ đều có năng khiếu về không gian, toán học, kiến trúc, rất thông minh, khéo tay và thường xuyên tự hào về những ưu điểm đó.
Đó chính là Hội những người thuận tay trái (Left-Handers), tập hợp nhiều vĩ nhân của thế giới, có thể kể đến là Napoleon, đại danh họa Leonardo da Vinci, Michelangelo, Isaac Newton, tỉ phú Bill Gates, Tổng thống Mỹ Barack Obama... Và có rất nhiều sự thật thú vị về Hội Tay Trái như Người thuận tay trái thường nhai thức ăn bên trái; 20% số thành viên của MENSA – tổ chức dành cho những người có IQ cao tại hơn 100 quốc gia trên thế giới – là những người thuận tay trái; Đàn ông thuận tay trái nhiều gấp đôi phụ nữ; nếu hai người thuận tay trái kết hôn với nhau, khả năng con họ cũng thuận tay trái là 50%....
Và hôm nay, 13/8, chính là "Ngày quốc tế người thuận tay trái"(Left-Handers Day).
Còn bạn, bạn có phải là Người thuận tay trái không?

Nếu thuận hay không, thì chúng ta cùng chúc mừng họ nhé!


Braintrust
www.tamtaitri.com

SINH TRẮC DẤU VÂN TAY - LỊCH SỬ MỘT NGÀNH KHOA HỌC


Năm 1823: Joannes Evangelista Purkinji tìm thấy các mô hình và hình dạng của ngón tay.
Năm 1880: Henry Faulds và W.J Herschel, trong một công trình công bố tên là “Nature”, đã đề xuất sử dụng vân tay như là phương thức độc đáo để xác định bản chất của con người.  
Cuối thế kỉ 19 năm 1880: Tiến sĩ Henry Faulds đưa ra lý luận số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của con người được thừa kế trong đó có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.



Năm 1892: ông Francis Galton đã chỉ ra rằng: vân tay của những cặp song sinh, anh em và di truyền cùng dòng máu thì có sự tương đồng. Chính điều này đã mở ra ngành nhân học.
Năm 1902: Harris Hawthorne Wilder đã thiết lập hệ thống cơ bản của môn hình thái học, di truyền học, và nghiên cứu trên chủng loại lòng bàn tay và vân tay.
Năm 1926: Harold Cummins đề xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học dấu vân tay) như là một thuật ngữ cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học của Mỹ. Từ đó, Dermatoglyphics chính thức trở thành một ngành nghiên cứu riêng biệt. Tiến sĩ Harold Cummins đưa ra lí luận chỉ số cường độ vân tay PI, giá trị RC, số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.
Ông nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào giai đọan trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng chỉ trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi cũng là lúc các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não.
Năm 1930: Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP: Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.
Năm 1958: Noel Jaquin đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân ta y sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách.
Năm 1981: giáo sư Roger W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh học vì những nghiên cứu về chức năng của não trái và não phải cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây những nghiên cứu về não bộ không ngừng phát triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
Năm 1985: Tiến sĩ Chen Yi Mou - Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.


Năm 1994: giáo sư Lin Jui Pin đã mang khoa học Sinh trắc học dấu vân tay vào Đài Loan. Sau đó, nó đã được ứng dụng vào việc học tập và nghiên cứu và tạo ra tiếng vang rất lớn tại Đài Loan vào lúc bấy giờ. Công trình nghiên cứu của ông được Mỹ chứng nhận và cấp bằng sáng chế.
Năm 2004: Cty Well Gene Sciences đã bắt đầu sử dụng kỹ thuật cao để lấy Dấu vân tay. Với một cơ sở dữ liệu khổng lồ lên đến hàng triệu cùng với kỹ thuật phân tích thống kê, công ty này đã đưa ứng dụng sinh trắc vân tay lên một tầm cao mới.
Cùng thời điểm này, tại châu Á, mức độ quan tâm đặc biệt về khả năng nghiên cứu và ứng dụng của ngành sinh trắc vân tay đã lan nhanh mạnh mẽ. Trung tâm IBMBS (Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay.


 Braintrust
www.tamtaitri.com
 
Copyright © 2016 Braintrust Tôi đi tìm tôi